Thông tin mới nhất từ AAC

AAC (news): IELTS, TOEIC, Tiếng anh, trẻ em, thiếu niên, người lớn, trung tâm tại Hà Nội

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

Phân biệt cách dùng 3 giới từ in, at, on trong tiếng Anh

Hôm nay, John và Linh hướng dẫn bạn cách sử dụng 3 giới từ chỉ thời gian và địa điểm in, at và on trong tiếng Anh.
Linh: (đang nghe điện thoại)
I’m back in the city already…
Meet me in the front of the cinema. I’ll be there in 20 minutes.
John: Hẹn bạn trai hả? Nhưng mà bắt quả tang Linh dùng sai giới từ rồi nhé, phải là “at the front of the cinema” cơ!
Linh: Không phải bạn trai, bạn gái đấy. Anh John có thích thì Linh cho đi cùng. Mà Linh tưởng front thì phải dùng in chứ, như trong “in front of” ý.
John: “In front of” thì đúng rồi, nhưng với “the front of the cinema” thì lại phải dùng at cơ.
Linh: Sao lại thế? Khó quá vậy anh!
John: Cũng chỉ… hơi hơi khó thôi. Thực ra ban đầu chỉ cần nắm rõ quy tắc và để ý một chút, dần dần sẽ quen ngay thôi.
Linh: Nhân tiện, anh John hệ thống lại cho Linh một chút được không?
John: Này nhé:
Có 3 giới từ hay bị nhầm lẫn nhất là In, AtOn. Chúng được sử dụng để nói về thời gianđịa điểm. Chúng ta tập trung vào các trường hợp dễ gây nhầm lẫn nhé.
Về thời gian:
Chúng ta sử dụng in khi nói về tháng, năm và các quãng thời gian. Ví dụ:
In         March
1997
the twenties (trong những năm 20)
the 21st century
            the morning/afternoon/evening

Chúng ta cũng sử dụng in khi nói đến các quãng thời gian trong tương lai như vừa rồi Linh có dùng: “in 5 minutes” và in a few days, in 2 years, in a couple of months…
At chỉ được sử dụng với một mốc thời gian rõ ràng nào đó:
At        10 p.m.
            half past six
            5 o’clock
            noon/night
            …
On được sử dụng khi đề cập đến những ngày cụ thể trên lịch:
On       March 5th
            Christmas
            …
Lưu ý rằng in the morning/afternoon/evening nhưng at night/noon và cần phân biệt sự khác nhau giữa in timeon time.
Về địa điểm:
Chúng ta sử dụng in với những khoảng không gian như:
In         a park
            a garden
            a room
            space (trong vũ trụ)

với các thành phố và các quốc gia;
với các dạng của nước như:
In         the sea
            the ocean
            the river
            the pool
            …
hay với các hàng, đường thẳng như:
In         a line
            a row
            a queue
            …
At thì được sử dụng khi đề cập đến các địa điểm:
At        the cinema
            the bus stop
            the end of the street
và các vị trí trên một trang giấy:
At the top/bottom of the page
vị trí trong một nhóm người:
At        the back of the class
            the front of the class
            …
On được sử dụng với các bề mặt:
On       the ceiling/the wall/the floor
the table
            …
các hướng:
On       the right
            your left
và khi nói “mặt trước/saucủa một tờ giấy: On the front/back of a piece of paper/the bill… 
Lưu ý:
-         Cũng có thể sử dụng at the river/sea… khi muốn đề cập đến river/sea như một địa điểm. Ví dụ như “We met at the river and headed North” (chúng tôi gặp nhau tại bờ sông và tiến về hướng Bắc) hay “Breakfast at the sea” (bữa sáng bên bờ biển)…
-         Có thể sử dụng on đối với những hòn đảo nhỏ.
-         Chúng ta nói “in the corner of the room”(1) nhưng lại nói “at the corner of the street” (2) vì (1) muốn đề cập đến một vị trí tương đối (góc phòng, giữa phòng…) còn (2) muốn đề cập đến một địa điểm.
-         Tương tự chúng ta như trên đối với:
o       in the front/back of a car (vị trí)
o       at the front/back of buildings (địa điểm)
Linh: Cũng không quá khó anh John nhỉ. Nhưng mà công nhận là có rất nhiều thứ trước giờ Linh vẫn dùng sai mặc dù đã được học rất nhiều về các giới từ này. Chắc có lẽ tại chưa có sự so sánh cụ thể như hôm nay.
John: Đã có quy tắc rồi, chỉ cần lưu ý một chút và sử dụng vài lần là quen ngay ấy mà.
Chúc Linh và các bạn thành công!
Ơ, mà Linh không đi đi à? Định để bạn bị “leo cây à”! Có cần anh đi cùng để “xin lỗi” hộ không?
Linh: Suýt nữa thì quên mất! Vẫn chưa muộn đâu, Linh đi đây. Cám ơn anh John và tạm biệt các bạn.

Cách phát âm các dạng của “be”

Trong giao tiếp, động từ “be” thường không được nhấn trọng âm mà chỉ được “lướt qua”. Động từ “be” cũng không được nhấn trọng âm ngay cả khi nó đứng đầu câu (ví dụ như trong câu nghi vấn).

John& Linh: Xin chào các bạn!
Linh: Để sử dụng tốt tiếng Anh, ngoài việc nắm được các cấu trúc ngữ pháp, có một vốn từ kha khá, có một tư duy “bằng tiếng Anh” thì việc phát âm chuẩn cũng cực kỳ quan trọng.
John: Đúng như vậy, ngoài tác dụng làm cho người nghe dễ hiểu thì việc phát âm chuẩn còn giúp cải thiện đáng kể khả năng nghe của bạn. Vì sao ạ? Rất đơn giản, vì bạn chỉ có thể nhận biết được người ta đang nói từ gì khi bạn biết được từ đó được phát âm ra sao. Nếu không nắm vững các cách và các quy tắc phát âm chuẩn thì bạn sẽ mất nhiều thời gian hơn trong việc nghe và “đoán” lời người khác nói.
Linh: Vậy hôm nay anh John chia sẻ với Linh và mọi người một trong số các “cách và quy tắc” đó đi. Cái gì thực tế nhất để có thể áp dụng được ngay ấy.
John: Thực tế nhất thì anh cũng không biết là cái gì, nhưng mà áp dụng ngay thì anh nghĩ có thể thực hành với các dạng (thì hiện tại và quá khứ) của một động từ rất quen thuộc: “to be”. Trong giao tiếp, động từ “be” thường không được nhấn trọng âm mà chỉ được “lướt qua”. Trước tiên, chúng ta hãy cùng nghe đoạn ghi âm dưới đây:
Nếu không xem được Clip mời bạn click vào đây
John: Trong đoạn ghi âm nói trên, chúng ta có thể thấy “are” chỉ được phát âm rất nhẹ như /ə/. Đây là cách phát âm thường thấy trong giao tiếp. Âm /r/ thường chỉ được phát âm khi theo ngay sau “are” là một từ có phát âm bắt đầu bằng một nguyên âm.
(Hãy cùng luyện tập theo:
Roses are red,
Violets are blue.
Flowers are nice,
And so are you!
She was first. You were last.
It was hard. She was fast.
You were slow. She was strong.
I was tired. It was long.) 
John: Động từ “be” cũng không được nhấn trọng âm ngay cả khi nó đứng đầu câu (ví dụ như trong câu nghi vấn):
Nếu không xem được Clip mời bạn click vào đây
(Hãy cùng luyện tập theo:
Am I right? Am I wrong?
Is it short? Is it long?
Are you hot? Are you cold?
Were they young? Were they old?
Is it false? Is it true?
Was it me? Was it you?) 
John: Cũng trong giao tiếp, “is” thường không được phát âm ra như một âm tiết riêng biệt mà nó thường chỉ được phát âm như một chữ “s” thêm vào ở cuối của từ đứng trước nó như. “Snow is white” được phát âm như là “snows white”.
Tuy nhiên, nếu như từ đứng trước nó kết thúc bằng S, CE, GE hay CH thì bắt buộc is hay ’s đều phải được phát âm thành một âm tiết riêng biệt /iz/. Hãy theo dõi đoạn băng sau đây để thấy rõ những sự khác biệt này:
Nếu không xem được Clip mời bạn click vào đây
(Hãy cùng luyện tập theo:
Snow is white.
Your hair is dirty.
The road is closed.
The clock is broken. 
Grass is green.
Your face is dirty.
The bridge is closed.
My watch is broken.) 
John: Lưu ý, động từ “be” được nhấn trọng âm trong những trường hợp sau:
Đứng cuối câu (như trong câu trả lời Yes, I/he/they am/is/are/was/were).
Trong dạng phủ định (như aren’t).
Khi được sử dụng để nhấn mạnh điều gì đó (ví dụ: A:That’s not true! B:Yes, that is true!).
Linh: Linh thấy hơi khó có thể quen ngay với việc phát âm chuẩn như thế này và cũng hơi khó có thể giao tiếp trôi chảy được ngay vì Linh quá quen với cách phát âm cũ của mình rồi anh John ạ.
John: Linh và các bạn đừng lo. Mình nói chuyện với người nói nhanh không có nghĩa mình cũng phải nói nhanh giống họ. Ngữ âm có thể chuẩn hơn nếu chúng ta nói chậm một chút và nhanh dần lên khi chúng ta đã quen. Điều quan trọng là chúng ta cần kiên trì tập luyện. Việc luyện nói có thể không thành công ngay lập tức, nhưng nó sẽ đem tới một kết quả bất ngờ, đó chính là cải thiện rõ rệt khả năng nghe của chúng ta.
John: Chúc Linh và các bạn độc giả thành công!
Linh: Cám ơn anh John! Hẹn gặp lại các bạn vào lần sau.

Ngữ điệu trong tiếng Anh

Ngữ điệu là một nhân tố rất quan trọng trong tiếng Anh. Hôm nay, John & Linh chia sẻ với các bạn một số cách để biểu cảm với ngữ điệu nhé...

John& Linh: Xin chào các bạn!
Linh: Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết rằng ngữ điệu là một nhân tố rất quan trọng trong tiếng Anh và chắc hẳn chúng ta đều biết đến cuối câu hỏi thì cần phải lên giọng.
John: Tuy nhiên, ngữ điệu trong tiếng Anh còn “làm” được nhiều việc hơn như thế. Ngày hôm nay, John & Linh sẽ chia sẻ với các bạn một số cách để biểu cảm với ngữ điệu. Qua đó, chúng ta sẽ đạt hiệu quả cao hơn trong diễn đạt và cũng dễ dàng nắm bắt tình cảm, cảm xúc của người đối thoại hơn.
Linh: Trước tiên, mời các bạn nghe 1 đoạn ghi âm. Trong đoạn ghi âm này có 3 nhân vật (đánh số 1, 2, 3) đang nói “cám ơn”, các bạn hãy thử nghe xem thái độ của mỗi nhân vật này như thế nào nhé
 nếu không xem được clip mời bạn click vào đây


John: Người thứ nhất là một người soát vé. Sau mỗi lần thu vé của khách, anh ta đều nói “cám ơn”. Đây là một thói quen mang tính chất lặp đi lặp lại theo yêu cầu của công việc, chỉ là một hành động giữ phép lịch sự chứ không còn thực sự để biểu lộ “sự biết ơn” nữa. Điều này thể hiện rất rõ trong giọng nói đều đều và đôi lần lên giọng ở cuối câu một cách gượng ép của anh ta.
Linh: Người thứ 2 biểu lộ rằng mình thực sự biết ơn (vì chị ta để quên túi và được người ta đuổi theo để trả) với việc lên giọng và nhấn mạnh vào các từ mang ý nghĩa “cám ơn”.
John: Người thứ 3 nói “cám ơn” với ý nghĩa đối lập hoàn toàn. Chị ta đang biểu lộ sự tức giận vì bị một xe ô tô chạy qua làm nước bắn hết lên áo choàng. Chúng ta có thể hiểu được điều này qua giọng điệu tức giận của chị ta với Thank you very much được nói với giọng đều, không lên không xuống (điều này sẽ được làm rõ hơn ở phần sau).
Linh: Chúng ta sử dụng rất nhiều tính từ khi đưa ra ý kiến, quan điểm về các sự vật, sự việc. Một số trong đó là các tính từ rất mạnh mang tính biểu cảm cao như: brilliant, wonderful, excellent, fantastic, awful, disgusting… chúng ta cần lên giọng khi sử dụng những tính từ rất mạnh này.
John: Một số từ khác ở mức độ bình thường như: nice, OK, good, fun, pretty… chúng ta không cần lên giọng. Các bạn có thể thấy rõ điều này qua đoạn ghi âm dưới đây:
 nếu không xem được clip mời bạn click vào đây
 
Liz: So, how was your trip?
Claire: Oh, it was quite nice.
Paul: What do you mean, nice? It was brilliant!
Liz: Good hotel?
Claire: Quite pleasant, yes.
Paul: Pleasant? It was excellent! Superb!
Liz: How about the food?
Claire: It was OK.
Paul: OK? It was absolutely delicious!
Liz: And the scenery?
Claire: Quite pretty.
Paul: It was amazing! Beautiful!
Linh: Như đã nói ở trên, khi sử dụng những tính từ mạnh, chúng ta thường lên giọng (lên giọng và hơi xuống một chút ở cuối từ). Nếu sử dụng những tính từ mạnh với một giọng điệu đều đều, người nói thường muốn biểu đạt nghĩa ngược lại của từ đó. Người thứ 3 trong đoạn ghi âm đầu tiên cũng sử dụng nghĩa đối nghịch khi nói.
John: Chính vì vậy, khi sử dụng những tính từ mạnh, chúng ta hãy lên giọng, biểu cảm cao hơn để tránh người nghe có thể hiểu nhầm rằng chúng ta đang mỉa mai hoặc không thực sự cảm thấy như những gì chúng ta đang nói. Các bạn có thể tham khảo đoạn ghi âm dưới đây:
 nếu không xem được clip mời bạn click vào đây
 
1: We’ve won a holiday for two in Jamaica!
Brilliant! (lên giọng, thực sự thích thú)
2: Our flight has been canceled!
Brilliant! (không lên giọng, biểu lộ sự thất vọng, bực bội)
Linh: Các bạn hãy chú ý hơn đến ngữ điệu khi nói, hãy luyện tập theo các đoạn ghi âm trong bài.
John: Mong rằng kỹ năng nghe và nói của các bạn sẽ có những tiến bộ đáng kể.
John& Linh: Xin chào và hẹn gặp lại!

Đọc John & Linh, cùng “rinh” giải thưởng

Hôm nay John & Linh bật mí với các bạn điều bất ngờ mà Linh hé lộ từ tuần trước nhé!
Xin chào các bạn!
John: Trong các kỳ trước, John & Linh đã chia sẻ với các bạn các tình huống sử dụng tiếng Anh trong đời thường dưới dạng bài viết (vì tuy đơn giản nhưng không phải lúc nào và không phải bạn đọc nào cũng có máy tính trang bị tai nghe).
Tuy nhiên, theo gợi ý và mong muốn của một số bạn đọc yêu thích John & Linh, hôm nay, với sự tài trợ từ Tập đoàn Ngôn ngữ & Kỹ năng AAC (http://www.aac-edu.com.vn/), chúng ta hãy cùng thử sức với một số đoạn ghi âm ngắn và “rinh” giải thưởng giá trị.
Linh: Sẽ có 3 đoạn băng ngắn với các yêu cầu khác nhau từ dễ đến “ít dễ” hơn một chút. Các bạn hoàn thành các yêu cầu đó và gửi vào phần bình luận ở phía dưới cùng của bài này.
Lưu ý:
- Các bạn phải điền chính xác Họ tên, email, thành phố và năm sinh của bạn - đây sẽ là căn cứ để trao thưởng.
- Các bạn sẽ có thời gian đến hết thứ sáu (19/11/2010) để thực hiện phần thi của mình. Sau đó, các bình luận sẽ được mở để mọi người cùng xem. Nếu bạn gửi bình luận vào thời điểm sau ngày thứ sáu (19/11/2010) thì bình luận đó không được tính.
- Giải thưởng sẽ được trao cho bạn nào có các câu trả lời chính xác nhất, hay nhất và sớm nhất. Các yếu tố này được xếp theo thứ tự giảm dần về độ ưu tiên.
- Kết quả sẽ được thông báo vào thứ Hai (22/11/2010) trên chuyên mục John & Linh.
- Giải thưởng không được quy đổi thành hiện vật khác, không được quy đổi thành tiền mặt.
- Quyết định của ban tổ chức là quyết định duy nhất và sau cùng.
John: Giải thưởng sẽ là 1 khóa học “Luyện phát âm chuẩn” tại AAC trị giá 3.780.000đ (nếu bạn đọc thắng cuộc ở Hà Nội) hoặc 1 USB 3G (đối với bạn đọc thắng cuộc không ở Hà Nội. Ban tổ chức sẽ chuyển giải thưởng qua đường bưu điện) để các bạn dễ dàng hơn trong việc truy cập Internet và không bỏ lỡ các bài viết của John & Linh.
Linh: Và bây giờ mời các bạn bắt đầu “thử sức”. Các bạn có thể “tua đi tua lại” tùy ý để đưa ra các câu trả lời tốt nhất:
Câu I:
John: Scarlett không muốn ăn/không ăn được những thức ăn gì và vì sao?
Câu II:
Linh: Trong 8 câu sau đây (đánh số từ 1 đến 8), mỗi câu đều có 1 động từ kết thúc bằng “se”, hãy cho biết “se” trong mỗi câu đó được phát âm là /s/ hay /z/ theo mẫu:
1 - s (hoặc z)
2 - s (hoặc z)
...
Câu III:
John: Dưới đây là một câu chuyện rất ngắn với phần thu âm không được lọc bỏ tạp âm (để tăng độ khó lên chút xíu, không có lại dễ quá nhỉ), các bạn hãy dịch sang tiếng Việt sao cho hay nhất có thể mà vẫn đảm bảo tính chính xác.
John & Linh: Chúc các bạn có một thời gian vui vẻ với John & Linh.

Từ/ngữ biểu đạt cảm xúc trong tiếng Anh

Cùng một từ, một ngữ nào đó, trong văn cảnh khác nhau với các giọng điệu khác nhau lại biểu đạt các cảm xúc khác nhau, ví dụ như cụm từ "Oh my God!"...
Linh: Anh John ơi, Linh thấy rằng trong giao tiếp tiếng Anh, người ta rất hay dùng các câu cảm thán. Ví dụ như “Oh my God!” Linh có thể hiểu là “Ôi Chúa tôi ơi!” hay là “Chúa ơi!”; hay như “Jesus Christ!” có thể hiểu là “Lạy chúa!” như trong tiếng Việt. Còn rất nhiều câu cảm thán khác mà Linh không hiểu nghĩa và cũng không biết nên dùng trong những tình huống thế nào. 
John: Linh không hiểu hết nghĩa của những từ/ngữ cảm thán (exclamation /¸eksklə´meiʃən/) thì cũng không phải vấn đề quá lớn. Thứ nhất là vì chúng có rất nhiều, thứ hai nữa là để biểu đạt cảm xúc, người ta cũng thường “sáng tạo” ra hàng tá từ/ngữ mới hàng ngày, thứ 3 nữa là các từ/ngữ được sử dụng chỉ đơn giản như một “điểm nhấn” cảm xúc trong giao tiếp và hầu hết đã dần dần mất đi nghĩa nguyên gốc của chúng.
Cùng một từ, một ngữ nào đó, trong văn cảnh khác nhau với các giọng điệu khác nhau lại biểu đạt các cảm xúc khác nhau. Ví dụ như đối với “Oh my God”:
“Oh my God! You can play the piano pretty well!” - Người nói muốn nhấn mạnh sự ngạc nhiên, thán phục.
“Oh my God! That’s just disgusting!” - Nhấn mạnh sự ghê tởm trước một hành động, sự vật nhất định.
“Oh my God! I’ve lost it again.” - Thể hiện sự thất vọng, chán nản.
John: Rất nhiều “thán từ” kiểu này liên quan đến tên “Chúa” hay các cách gọi khác nhau của “Chúa”. Ví dụ như “Oh my God”, “For God’s sake”, “Jesus Christ”… Về mặt nguyên tắc, những từ/ngữ này không được khuyến khích sử dụng vì “không nên gọi tên Chúa hoặc nhắc đến Chúa một cách tùy tiện”. Tuy nhiên chúng vẫn thường xuyên được sử dụng bởi cả những người theo đạo và những người không theo đạo vì một lý do rất đơn giản như đã đề cập ở trên: chúng đã dần dần mất đi ý nghĩa nguyên gốc của chúng và giờ chúng đơn giản chỉ là cách mà người ta biểu lộ cảm xúc, nhấn mạnh cảm xúc mà thôi.
Linh: Tức là chúng ta không nên sử dụng?
John: Việc sử dụng hay không là quyết định ở mỗi người, anh chỉ đưa ra những thông tin trung lập, chi tiết hết sức có thể.
Linh: Linh đã từng nghe thấy ai đó nói “God damn it”, vậy nó cũng như các trường hợp anh nói ở trên à?
John: Không! Exclamation có rất nhiều, và trong số đó có rất nhiều từ mà mức độ của nó “quá nặng” hoặc gần như là một câu nguyền rủa (curse) hay chửi bậy (swear) chúng ta đặc biệt không nên sử dụng. “Damn” đại khái là nguyền rủa, “Damn it” hay “God damn it” hiểu nôm na theo tiếng Việt là “Trời đánh thánh vật” hay “Quỷ tha ma bắt”, tất nhiên là không nên sử dụng rồi. Ngay cả trong tiếng Anh người ta cũng “sáng tạo” ra không ít biến thể để tránh phải nói thẳng ra cụm từ này (Dog gone it, Gosh darn it…).
Linh: Vậy thì biết dùng cái gì bây giờ?
John: Vẫn còn cách có thể nhấn mạnh cảm xúc mà không cần thiết phải sử dụng những từ/ngữ đã đề cập ở trên, anh sẽ nói cho Linh sau. Trước tiên anh muốn liệt kê ra một số Exclamation ở mức độ “vừa phải” để dù không sử dụng nhưng ít nhất khi gặp phải chúng ta sẽ biết được nó là cái gì:
- Jesus/ Jesus Christ! (Hoặc Jeez! - viết tắt của Jesus)
- For God/Heaven’s sake!
- Holly Mother of God!
- Oh my God/Goodness!
- …
John: Còn riêng cá nhân John, khi gặp gỡ những người thân quen, để nhấn mạnh cảm xúc, John có thể sử dụng:
- Are you kidding me? This is perfect! (khi John nhận món quà sinh nhật là một chiếc áo mà John rất thích và dự định sẽ mua)
- Cool/wow/oh dear! (sử dụng khi ngạc nhiên, thích thú. Riêng “Oh dear” có thể sử dụng biểu hiện sự thương cảm, đồng cảm với nỗi buồn của ai đó ví dụ “Oh dear! I don’t believe that just happened!”)
- For crying out loud!
- Get out!/Shut up! - Biểu lộ sự thích thú, ngạc nhiên. Lưu ý chỉ sử dụng với những người cực kỳ thân thiết, ngang hàng về thứ bậc.
- No, somebody didn’t! - Diễn tả sự ngạc nhiên, ví dụ:
Ví dụ: Mathew and Jane broke up last week. - No, they didn’t!
My wife bought only 5 lottery tickets and she won 100,000 dollars. Can you believe that! - No, she didn’t!
- Tương tự với “No way!”, “you've got to be kidding!”, “impossible!”…
- Khi muốn thực sự nhấn mạnh rằng “tôi không tin” hoặc sự không đồng ý (đối với những thân thiết và ngang hàng về thứ bậc), ta có thể sử dụng: “are you for real?”, “are you out of your mind?”, “yeah, when pigs fly!”… hoặc chỉ đơn giản “yeah, right!” hay “yeah, and I’m the Pope” với nghĩa mỉa mai.
Linh: Tóm lại là, dù gì đi chăng nữa thì cũng phải cẩn thận với đối tượng và ngữ cảnh nói đúng không anh John? Vì đã là nhấn mạnh về biểu lộ cảm xúc thì nếu dùng không đúng chỗ thì sẽ trở nên thái quá?
John: Phải công nhận Linh có lẽ là “học trò” sáng dạ nhất của anh đấy!

Cách nói “đồng ý”/“phản đối” trong tiếng Anh

Trong giao tiếp bằng tiếng Anh, dù là đối với người rất thân thiết, việc biểu đạt sự phản đối hay không đồng tình cũng cần phải rất cẩn trọng trong lời nói và cách nói.
John: Linh à, hình như mùa thu đã qua và mùa đông đang đến rồi. Linh thích mùa thu lắm đúng không? Anh thì không, mùa thu Hà Nội buồn chết đi được! 
Linh: Ai bảo anh thế, Linh thấy mùa đông còn buồn hơn. Trời thì lạnh ơi là lạnh, cây cối thì xác xơ trơ cả cành to cành bé. Không khí lại còn khô nữa, tay chân mặt mũi lúc nào cũng trong tình trạng “nứt toác” hết cả ra. Nói chung là mùa đông không bằng mùa thu được!
John: “Đanh đá” thế, anh mới nói 1 câu thôi thì Linh đã “tràng giang đại hải” rồi. Mà anh thấy rằng, theo văn hóa Việt Nam thì trong những trường hợp không quá khách sáo, người ta có thể trực tiếp bày tỏ sự không đồng tình, sự phản đối, như Linh vừa mới nói xong đấy. Tuy nhiên, trong giao tiếp bằng tiếng Anh thì dù là đối với người rất thân thiết, việc biểu đạt sự phản đối hay không đồng tình cũng cần phải rất cẩn trọng trong lời nói và cách nói.
Linh: Vậy hả anh? Anh John có thể nói rõ hơn chút nữa được không?
John: Đúng vậy. Để diễn đạt ý không đồng tình, người ta thường hay “đi đường vòng” một chút.
Khi muốn nói rằng “tôi không đồng ý” thì người ta cần phải đưa ra lý do vì sao không đồng ý và đưa ra giải pháp thay thế nếu có, sử dụng các từ/cụm từ lịch sự và tránh khẳng định chắc chắn rằng điều tôi đưa ra mới là đúng nhất bằng cách sử dụng các từ như Should, Could, Might, Maybe...
Có thể bắt đầu bày tỏ sự không đồng thuận bằng:
- (I’m) Sorry but…
- I’m afraid that…
Và theo sau đó bằng:
- I can’t go along with that.
- I don’t agree with you.
- I can’t agree with you.
- I don’t share your opinion.
- …
Hoặc theo một trong những cách sau:
- You make/have a point there, but…
- I see your point, but…
- That could be true, but…
- I see what you mean, but…
- I see, but in my opinion…
- …
Tránh những cách diễn đạt quá mạnh mẽ trừ phi đối với những người cực kỳ thân thiết và ngang hàng về thứ bậc kiểu như: “That’s ridiculous”, “Rubbish”, “Totally disagree”, “That doesn’t make any sense at all”, “You can’t be serious”, “Don’t be silly”…
Trong những trường hợp ta không hoàn toàn phản đối ý kiến của người khác mà chúng ta chỉ muốn cho người đó thấy khía cạnh khác của vấn đề hoặc bổ sung thêm những ý kiến quan trọng cho vấn đề đó thì nếu muốn ta có thể áp dụng các mẫu câu đại loại như sau:
- That’s true. But, on the other hand…
- I totally agree with you but we also have to consider…
- I agree with you up to a point, however…
- It’s a good idea, but…
- That makes sense, but…
- You are right, and in fact….
- That’s right, and what is more…
- …
Linh: Đa dạng quá anh John nhỉ! Không đồng ý thì như vậy, chắc đồng ý thì đơn giản hơn nhiều nhỉ?
John: Đồng ý thì đơn giản hơn nhiều rồi, chỉ khác nhau ở mức độ đồng ý đến đâu thôi.
Hơi hơi đồng ý thì khác (“I suppose so/not”, “I guess so/not” - đồng ý với câu khẳng định hoặc phủ định, …), đồng ý bình thường (“Right”, “True”, “Correct”, “Agree”, “Good point”…) hoặc nhiệt liệt tán thành (“Couldn’t agree more”, “Totally agree”, “Absolutely right”, “Indeed”, “Exactly”, “That’s exactly what I had in mind”… ) cũng khác nhau rất nhiều, tùy vào tình huống mà sử dụng.
Linh: Couldn’t agree more!
John: Linh học nhanh nhỉ, nhưng mà không biết có nhớ lâu và thực hành chuẩn không nữa. Các bạn độc giả hãy cùng “thi” với Linh nhé!
Linh: Và đừng quên theo dõi chuyên mục đều đặn để không bỏ lỡ điều bất ngờ

0 đến 200 trong 6 giây

Để hiểu được truyện cười thì đơn giản hơn so với dịch lại truyện cười đó. Các bạn hãy thử tự dịch câu chuyện này xem sao nhé!
Linh: Anh John ơi, ai lại làm gì anh mà trông anh buồn thế?
John: My friend Jake was in trouble. He forgot his wedding anniversary. His wife was really pissed.
She told him "Tomorrow morning, I expect to find a gift in the driveway that goes from 0 to 200 in 6 seconds AND IT BETTER BE THERE!!"
The next morning he got up early and left for work. When his wife woke up, she looked out the window and sure enough there was a box gift-wrapped in the middle of the driveway.
Confused, the wife put on her robe and ran out to the driveway, brought the box back in the house.
She opened it and found a brand new bathroom scale.
Jake has been missing since then...
Linh: Anh lại trêu Linh đúng không? Nghe xong Linh cũng thấy buồn, nhưng mà là buồn cười cơ!
John: Thì anh đang muốn trêu Linh mà, nhưng lại bị Linh phát hiện mất rồi. Chắc Linh cũng hiểu được punch-line (/'pʌnt∫'lain/ - điểm nút) của câu chuyện rồi nên mới thấy buồn cười?
Linh: Vâng, suýt nữa thì bị anh “lừa”, cứ phải nhịn cười, sợ bị chê là vô duyên “cười trên sự đau khổ của người khác”.
 
Theo các bạn thì món quà mà người vợ đề cập tới (a gift in the driveway that goes from 0 to 200 in 6 seconds) là gì và punch-line là ở đâu?
John: Để hiểu được truyện cười thì đơn giản hơn so với dịch lại truyện cười đó. Các bạn hãy thử tự dịch câu chuyện này xem sao nhé!
Linh: Và Linh cũng sẽ dịch lại vào ngày mai.
John & Linh: Mời độc giả theo dõi chuyên mục thường xuyên vào chiều thứ 2 và sáng thứ 5 hàng tuần. Vào thứ 5 (18/11/2010), chuyên mục sẽ có một bất ngờ nho nhỏ với các phần quà giá trị được tài trợ từ Tập đoàn Ngôn ngữ & Kỹ năng AAC (www.aac-edu.com.vn), hãy cùng đón xem

Từ lóng trong tiếng Anh

“Slang” (từ lóng) thường không được dùng trong ngôn ngữ trang trọng (formal), nó thường mang tính chất biến hóa, sinh động, biểu cảm, ẩn dụ cao hơn ngôn ngữ bình thường….
Linh: Anh John ơi, Linh đã từng nghe nói và cũng đã từng sử dụng “slang” nhưng vẫn chưa thực sự hiểu “slang” là gì?
John: Cũng có thể hiểu “slang” là từ lóng, tiếng lóng, còn nếu rõ ràng hơn nữa thì “slang” là các từ, các ngữ hay các cách diễn đạt không mang tính “tiêu chuẩn” của một ngôn ngữ bất kỳ. “Slang” thường không được dùng trong ngôn ngữ trang trọng (formal), nó thường mang tính chất biến hóa, sinh động, biểu cảm, ẩn dụ cao hơn ngôn ngữ bình thường. “Slang” cũng mang tính chất vùng miền và tính chất thời đại nữa.
Linh: Thực sự Linh không biết nhiều lắm về “slang” nên xem phim (phim Mỹ thường dùng rất nhiều tiếng lóng) nhiều khi cũng không hiểu lắm. Anh John “chỉ giáo” cho Linh một số “bài cơ bản” đi xem nào.
John: Tiếng lóng thì rất vô biên. Không mang tính tiêu chuẩn nên nó cũng “thiên biến vạn hóa” lắm, hôm nay anh sẽ chỉ liệt kê ra một số từ và cách diễn đạt hay được sử dụng thôi nhé, hôm khác nếu có thời gian chúng ta sẽ lại tiếp tục chủ đề này.
Trước hết, theo như cách người Việt Nam hay nói, chúng ta phải bàn đến vấn đề “đầu tiên” chứ nhỉ! Ở Mỹ nói đến tiền là chúng ta đang nói đến “dollar”, “buck” cũng được hiểu với nghĩa tương tự:
- How much for this, please? (Xin hỏi cái này bao nhiêu tiền)
- Ten bucks. (Mười đô la)
Tiếp đến, với những khoản tiền lớn hơn, hàng nghìn đô la thì có thể dùng “grand” thay cho “thousand dollars”.
Buy” ngoài nghĩa “mua” thì còn có thể dùng với nghĩa “hiểu”:
I still don’t buy it. Could you repeat once more? (Tôi vẫn không hiểu. Anh có thể lập lại thêm lần nữa được không?).
Hoặc còn có thể dùng như một từ lóng như sau:
This isn’t the highway! Slow down or you’re going to buy it in a car accident! (Đây không phải là đường cao tốc! Chạy chậm lại không có anh sẽ chết trong tai nạn xe hơi mất thôi!).
John: Hãy xem ví dụ sau:
Sandra played a mean joke on Justin. He didn’t get it at first. But when he did, he got really mad. The others tried to cool him down but couldn’t keep him from storming out of the bar. (Sandra trêu Justin hơi quá. Ban đầu thì cậu ấy không hiểu. Nhưng khi hiểu ra rồi thì cậu ấy cực kỳ giận. Mọi người cố gắng làm cậu ấy bình tĩnh lại nhưng cũng không giữ nổi cậu ấy khỏi giận dữ bỏ đi khỏi quán bar.)
Cool down” được dùng giống như “calm down” (bình tĩnh lại, làm cho bình tĩnh lại) còn “storm out” có nghĩa là nhanh chóng rời khỏi trong khi rất tức giận. Trái nghĩa với “storm out” còn có “storm in”:
He stormed into the house and broke everything got in his way. (Hắn lao vào trong nhà và đập vỡ tất cả những gì gặp phải)
Linh: Đúng rồi, xem phim Linh rất hay gặp mấy từ này. Còn nghe thấy người ta hay gọi nhau là “chicken” là sao anh?
John:Chicken” thường được dùng để ám chỉ những người hèn nhát, “nhát chết”. Nó còn được sử dụng làm động từ (“chicken out”) với nghĩa “từ bỏ, không dám làm việc gì nữa do quá sợ hãi”:
He insisted on trying Bungee Jumping but after seeing how high it was, he chickened out! (Anh ấy nhất định đòi thử nhảy Bungee nhưng sau khi thấy nó cao thế nào, anh ấy sợ quá không dám thử nữa!)
Cut it out! You must have a lot of guts to keep doing this! (Thôi đi! Mày chắc phải dũng cảm lắm mới dám làm thế mãi!)
Ở đây, “cut it out” không có nghĩa là thực sự cắt cái gì, mà là “dừng lại, không làm việc gì đó nữa”. Nó được hiểu tương tự như “break it up” (ở đây cũng không được hiểu là đập vỡ hay bẻ gãy cái gì). “Gut” là ruột, nôm na cho dễ hiểu “nhiều ruột” có nghĩa là “có nhiều can đảm, có nhiều dũng khí”, tương tự như “to gan” trong tiếng Việt vậy!
Linh: Có một từ này nữa anh John. Linh thấy người ta hay nói “nailed it”, “nailed him”… “Nail” là cái móng tay hay cái đinh, động từ là “đóng đinh”, vậy trong những trường hợp kia thì có nghĩa là gì?
John:Nail” còn có thể hiểu là “hoàn thành tốt, xuất sắc một việc gì đó” hoặc cũng có thể hiểu là “bắt được, tóm giữ được ai đó”:
After days of practice, she finally nailed the new routine. (Sau rất nhiều ngày luyện tập, cuối cùng cô ấy cũng tập thành công bài biểu diễn mới)
His father nailed him skipping class/school. (Bố cậu ta bắt quả tang cậu ta trốn học)
Linh: Hôm nay có lẽ dừng ở đây thôi anh John, không có Linh và mọi người bội thực thật mất thôi! “High five” nào! (2 người, mỗi người 1 bàn tay với 5 ngón tay - five - đập vào nhau ở trên cao - high)

“Bạn tri kỷ” trong tiếng Anh là gì?

Có thể ghép từ “mate” với các từ khác để làm rõ hơn về mối liên hệ của những người bạn đó như là “schoolmate, classmate, roommate” có nghĩa là “bạn cùng trường, bạn cùng lớp, bạn cùng phòng”, “playmate” là bạn cùng chơi, “soulmate” - bạn tâm giao/tri kỷ...

Linh: Anh John ơi, sau khi đọc bài “Bạn hay thù - Friend or foe”, một vài người bạn của Linh có hỏi Linh rằng còn rất nhiều thứ rất “hay ho” liên quan đến “friend” nữa, ví dụ như là các từ khác nữa cùng có nghĩa là “bạn” chẳng hạn. Hay hôm nay chúng ta thử ngồi ôn lại một lượt để lần tới gặp nhau, Linh sẽ khoe với các bạn ấy luôn?
John: Được thôi, vì tránh cho Linh khỏi bị friendless (tính từ - không có bạn), anh sẽ dời lịch dành cho việc “ngồi không ngẫm sự đời” của anh sang buổi chiều, sau việc “đi ra rồi lại đi vào” vậy!
Có rất nhiều từ/từ lóng cũng có nghĩa là bạn hoặc gần gần với bạn như: mate, pal, buddy, colleague, comrade, partner…
Linh: Linh biết rồi, “mate” cũng có nghĩa là bạn và nó có thể ghép với các từ khác để làm rõ hơn về mối liên hệ của những người bạn đó như là “Schoolmate, classmate, roommate” có nghĩa là “bạn cùng trường, bạn cùng lớp, bạn cùng phòng”, “playmate” là bạn cùng chơi, “soulmate” - bạn tâm giao/tri kỷ, đúng không anh?
John: Đúng rồi, nhưng đừng nhầm với “checkmate” (danh từ/động từ - chiếu tướng) đấy nhé! “Mate” cũng còn thường được dùng khi nói về bạn tình trong thế giới động vật.
Linh:Colleague” là bạn đồng nghiệp, “comrade ” (/'kɔmrid/) là đồng chí thì Linh biết rồi, còn “partner” có phải là đối tác, cộng sự hay một người làm cùng với mình việc gì đó, gần giống như “associate” (/əˈsoʊʃiˌeɪt/) đúng không anh?
John: Ừ, nhưng “partner” còn dùng cho vợ, chồng, người yêu hoặc là bạn nhảy hay người cùng chơi trong những môn thể nữa nhưng “associate” thì không.
Linh: Còn “buddy” cũng là bạn nhưng thân thiết, thân mật hơn một chút?
John: Cũng tương tự như “pal” nữa. “Pen pal (pen friend)” - bạn qua thư, thường dùng với thư tay, nhưng cũng có thể chấp nhận với thư điện tử.
Ally” (/ə´lai/) là bạn đồng minh. “Companion” (/kəm´pænjən/) - bạn, bầu bạn, người cùng làm một việc gì đó, bạn đường…
Đố Linh biết bạn trai, bạn gái là gì?
Linh: Anh John đố câu gì mà dễ thế, đố câu khác khó hơn đi xem nào! Là “boy friend” với “girl friend” chứ gì nữa!
John: Câu khác khó hơn nhé, 2 từ cùng chỉ bạn thân?
Dễ ợt, “close friend” và… và…
John: Và “bosom friend” (/´buzəm frend/). Hết “tinh vi” rồi nhé!
Hiện tại John cũng chỉ nhớ ra có tới đây thôi, các bạn hãy chia sẻ thêm với Linh các thứ “hay ho” nữa để có dịp “thể hiện” với các bạn của mình nhé.

Mối tình đầu của John

Chắc hẳn từ “taste” đã không còn xa lạ với những người sử dụng tiếng Anh. Tuy nhiên chúng ta hãy cùng trải nghiệm những cách dùng khác nhau với ý nghĩa khác nhau của từ “taste” hay những thành ngữ với từ “taste” qua câu chuyện về mối tình đầu của John nhé.
Linh: Mấy hôm nay Hà Nội bắt đầu trở lạnh rồi, anh John ăn mặc cẩn thận vào không có chưa khỏi ốm cũ đã thêm ốm mới đấy nhé. 
John: Ăn thua gì so với ở nhà anh. Mùa đông ở đây cũng còn chưa ăn nhằm gì. Nhưng mà đang quen nắng nóng, mấy hôm nay trở gió kể cũng thấy gai gai người, nhớ nhà phết!
Linh: Nhớ nhà hay nhớ người yêu?
John: Cũng nhớ người yêu, nhưng mà là… người yêu cũ. Mối tình đầu của anh đấy.
Linh: Nghe hấp dẫn quá nhỉ, kể cho em xem nào, để xem mẫu người lý tưởng của anh thế nào nào.
John: Thực ra thì cũng lâu lâu rồi. Cô ấy là một cô gái rất đặc biệt. She’s a woman of taste (có khiếu thẩm mỹ); she has a very special taste for fashion (đặc biệt thích thời trang). Ước mơ từ nhỏ của cô ấy là lớn lên sẽ trở thành nhà thiết kế thời trang. Ngoài thời trang thì cô ấy cũng thích nấu nướng nữa. Nhưng phải nói thật là cô ấy nấu ăn rất dở. Có lẽ đây là sự không hoàn hảo duy nhất của cô ấy.
Có lần cô ấy nấu cho anh món súp - một món hết sức đơn giản. It tasted like pure seawater for crying out loud (Vị của nó cứ như là nước biển nguyên chất vậy). Cô ấy bảo anh “Could you taste it for me?” (Anh nếm nó cho em nhé). Anh thấy đã hơi mặn rồi những vì muốn động viên cô ấy, anh bảo là “It’s perfect!” (Hoàn hảo).

Em biết cô ấy bảo gì không? Cô ấy bảo là “There’s something wrong, I think it’s not salty enough” (Có gì đó không ổn, em nghĩ chưa đủ mặn) và tiếp tục cho thêm muối vào. Thế mà cuối cùng anh vẫn phải ăn hết đấy!
Linh: Anh John tình cảm nhỉ. Thế sau đó thì sao?
John: Sau đó thì cô ấy chuyển đến Milan để theo đuổi ước mơ thời trang của mình. She had her first taste of a free life with new friends and new opportunities (Cô ấy đã có sự nếm trải đầu tiên về…). I think she has expensive taste not only in fashion but also in men! (cười buồn) (thích thời trang đắt tiền và cả những người đàn ông giàu có).
Anh tự nhủ rằng “every man to his taste” (mỗi người đều có sở thích, mong muốn riêng) và cố gắng vượt qua. That was the first time I had tasted the bitter of love (trải nghiệm vị đắng của tình yêu).
Đáng buồn hơn nữa, sau đó người yêu mới của cô ấy lại bỏ cô ấy để chạy theo một cô người mẫu nổi tiếng. She got the taste of her own medicine (nếm phải chính thuốc của mình - gậy ông đập lưng ông).
Linh: Buồn nhỉ.
John: Buồn gì chứ, giờ anh đã có tình yêu mới rồi! Việt Nam chính là tình yêu mới của anh đấy!