Thông tin mới nhất từ AAC

AAC (news): IELTS, TOEIC, Tiếng anh, trẻ em, thiếu niên, người lớn, trung tâm tại Hà Nội
Hiển thị các bài đăng có nhãn hoc tieng anh tai ha noi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hoc tieng anh tai ha noi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

30/4 và 1/5 bạn sẽ làm gì?

 Thân chào bạn! 

  Nhân dịp 30/4 và 1/5, Tập đoàn Ngôn ngữ & Kỹ năng AAC mang đến cho các bạn chương trình khuyến học Tặng khóa học Luyện Phát Âm Chuẩn với 100% giảng viên bản ngữ trị giá 4.000.000đ trong khuôn khổ Chương trình học bổng thường niên trị giá 1 tỷ đồng của AAC.

Chương trình áp dụng đến hết 29/04/2011.
Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ (04) 3942 6725 / 3942 6726.

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

Một số chú ý khi giao tiếp bằng tiếng Anh

Để bày tỏ sự quan tâm tới câu chuyện cũng như ngầm thông báo rằng “tôi vẫn đang nghe đây”, cuối mỗi đoạn, khi người nói dừng lại, người nghe nên hưởng ứng bằng cách phát ra các âm thanh “uh huh”, “mmm”… hoặc các câu cảm thán “oh no!”, “really?”, “oh my god!”, “is it for real?”…


Trong một số bài viết gần đây, John & Linh đã chia sẻ với các bạn một số kinh nghiệm để giao tiếp tiếng Anh tự nhiên hơn và hiệu quả hơn. Hôm nay, trước khi đi vắng, anh John vẫn không quên “dặn dò”, nói Linh ở nhà phải “thế này”, phải “thế nọ”, dù lúc đó anh John đã sắp bị muộn rồi. 
Để John khỏi muộn, Linh phải “hưởng ứng nhiệt tình” những gì anh ấy nói cho anh ấy yên tâm chứ thực ra lúc đó Linh cũng chưa biết sẽ chia sẻ với mọi người về vấn đề gì. Nhưng bây giờ thì Linh nghĩ ra rồi. Hôm nay chúng ta sẽ trao đổi một chút về việc “tung hứng” cũng như một số chú ý trong giao tiếp bằng tiếng Anh nhé. (Trong các bài viết trước, John & Linh đã đề cập đến việc sử dụng các từ/âm thanh lấp vào các chỗ gián đoạn khi nói hay cách phản ứng khi nghe chưa rõ.)
Trong giao tiếp, có những lúc chúng ta muốn tường thuật lại một việc gì đó, có khi là một tình tiết, một sự việc ngắn gọn nhưng cũng có khi là một câu chuyện dài hơn với nhiều thông tin và tình tiết mà người nói sẽ tách ra thành những đoạn nhỏ để nói.

Để bày tỏ sự quan tâm tới câu chuyện cũng như ngầm thông báo rằng “tôi vẫn đang nghe đây”, cuối mỗi đoạn, khi người nói dừng lại, người nghe nên hưởng ứng bằng cách phát ra các âm thanh “uh huh”, “mmm”… hoặc các câu cảm thán “oh no!”, “really?”, “oh my god!”, “is it for real?”… hay phụ họa bằng cách đặt những câu hỏi gợi ý hoặc yêu cầu cung cấp thêm thông tin như “and?”, “so what happened?”, “what did you do?”, “what do you mean?”… (điều này được thể hiện rõ qua đoạn ghi âm phía dưới)
Lưu ý rằng ngoài các câu cảm thán, “sự phụ họa” thường được nói với một tông thấp (biểu thị rằng “tôi chỉ phụ họa thôi”) chứ không lên giọng (lên giọng ở đây sẽ có hàm ý rằng “tôi đang muốn nói thêm”, tham khảo đoạn ghi âm phía dưới).
Về phần người nói. khi tường thuật, lại thường sử dụng 2 từ “well” và “anyway”.
“Well” thường được sử dụng với hàm ý rằng “tôi đang trả lời câu hỏi của anh” (chứ không phải đang tiếp tục câu chuyện của tôi).
Cũng có khi, người nghe không đặt câu hỏi nhưng người nói cảm thấy cần cung cấp thêm thông tin về một vấn đề hay chi tiết nào đó để người nghe có thể hiểu rõ câu chuyện hơn (trong đoạn ghi âm, người nói đã sử dụng “you know, my identity card” để làm rõ thêm về “my ID card”).
Sau khi phản hồi các câu hỏi của người nghe hay cung cấp thêm các “thông tin nền” như trên, người nói cần “ra hiệu” rằng tôi đang trở lại với câu chuyện của tôi bằng cách dùng “anyway”.
Các bạn hãy theo dõi đoạn ghi âm dưới đây để xem cách sử dụng và ngữ âm khi nói theo kiểu của người bản ngữ đối với các từ/cụm từ Linh cung cấp. Sau đó các bạn có thể tham khảo nội dung đoạn ghi âm ở cuối bài, với các phần in đậm, để có khái niệm rõ ràng hơn nữa.
Cuối cùng là đừng quên luyện tập theo nhé!
Chúc các bạn thành công!
nếu không nghe được clip mời bạn click vào đây

(A:       I nearly got arrested, you know, the other day.
B:         You what… arrested? What do you mean?
A:        Well, I’m doing this project on graffiti, you know, at college, and ehm… so I have to take lots of photos of graffiti and…
B:         Uh huh
A:        So anyway, I saw this train with some amazing graffiti on the side, so I went there to ehm… take a photo of it. The thing is, it was a bit far from the platform…
B:         So what happened?
A:        Well, I walked along next to the lines, and then these two ehm… station police came along and said I shouldn’t be there, so ehm… they took me to the office, and then they asked for my ID card, you know, my identity card…
B:         Mmm?
A:        Well, I didn’t have it. I left it at home that day.
B:         Oh no!
A:        Yeah, so anyway, then they didn’t know what to do with me, so ehm… I said, “Look, I’ll leave my camera here and I go home to get my ID card”. In the end, they agreed, so I did that, and they ehm…had a look at my ID number, and then just let me go…).

Phân biệt cách dùng 3 giới từ in, at, on trong tiếng Anh

Hôm nay, John và Linh hướng dẫn bạn cách sử dụng 3 giới từ chỉ thời gian và địa điểm in, at và on trong tiếng Anh.
Linh: (đang nghe điện thoại)
I’m back in the city already…
Meet me in the front of the cinema. I’ll be there in 20 minutes.
John: Hẹn bạn trai hả? Nhưng mà bắt quả tang Linh dùng sai giới từ rồi nhé, phải là “at the front of the cinema” cơ!
Linh: Không phải bạn trai, bạn gái đấy. Anh John có thích thì Linh cho đi cùng. Mà Linh tưởng front thì phải dùng in chứ, như trong “in front of” ý.
John: “In front of” thì đúng rồi, nhưng với “the front of the cinema” thì lại phải dùng at cơ.
Linh: Sao lại thế? Khó quá vậy anh!
John: Cũng chỉ… hơi hơi khó thôi. Thực ra ban đầu chỉ cần nắm rõ quy tắc và để ý một chút, dần dần sẽ quen ngay thôi.
Linh: Nhân tiện, anh John hệ thống lại cho Linh một chút được không?
John: Này nhé:
Có 3 giới từ hay bị nhầm lẫn nhất là In, At và On. Chúng được sử dụng để nói về thời gian và địa điểm. Chúng ta tập trung vào các trường hợp dễ gây nhầm lẫn nhé.
Về thời gian:
Chúng ta sử dụng in khi nói về tháng, năm và các quãng thời gian. Ví dụ:
In         March
1997
the twenties (trong những năm 20)
the 21st century
            the morning/afternoon/evening
…
Chúng ta cũng sử dụng in khi nói đến các quãng thời gian trong tương lai như vừa rồi Linh có dùng: “in 5 minutes” và in a few days, in 2 years, in a couple of months…
At chỉ được sử dụng với một mốc thời gian rõ ràng nào đó:
At        10 p.m.
            half past six
            5 o’clock
            noon/night
            …
On được sử dụng khi đề cập đến những ngày cụ thể trên lịch:
On       March 5th
            Christmas
            …
Lưu ý rằng in the morning/afternoon/evening nhưng at night/noon và cần phân biệt sự khác nhau giữa in time và on time.
Về địa điểm:
Chúng ta sử dụng in với những khoảng không gian như:
In         a park
            a garden
            a room
            space (trong vũ trụ)
…
với các thành phố và các quốc gia;
và với các dạng của nước như:
In         the sea
            the ocean
            the river
            the pool
            …
hay với các hàng, đường thẳng như:
In         a line
            a row
            a queue
            …
At thì được sử dụng khi đề cập đến các địa điểm:
At        the cinema
            the bus stop
            the end of the street
và các vị trí trên một trang giấy:
At the top/bottom of the page
vị trí trong một nhóm người:
At        the back of the class
            the front of the class
            …
On được sử dụng với các bề mặt:
On       the ceiling/the wall/the floor
the table
            …
và các hướng:
On       the right
            your left
và khi nói “mặt trước/sau” của một tờ giấy: On the front/back of a piece of paper/the bill… 
Lưu ý:
-         Cũng có thể sử dụng at the river/sea… khi muốn đề cập đến river/sea như một địa điểm. Ví dụ như “We met at the river and headed North” (chúng tôi gặp nhau tại bờ sông và tiến về hướng Bắc) hay “Breakfast at the sea” (bữa sáng bên bờ biển)…
-         Có thể sử dụng on đối với những hòn đảo nhỏ.
-         Chúng ta nói “in the corner of the room”(1) nhưng lại nói “at the corner of the street” (2) vì (1) muốn đề cập đến một vị trí tương đối (góc phòng, giữa phòng…) còn (2) muốn đề cập đến một địa điểm.
-         Tương tự chúng ta như trên đối với:
o       in the front/back of a car (vị trí)
o       at the front/back of buildings (địa điểm)
Linh: Cũng không quá khó anh John nhỉ. Nhưng mà công nhận là có rất nhiều thứ trước giờ Linh vẫn dùng sai mặc dù đã được học rất nhiều về các giới từ này. Chắc có lẽ tại chưa có sự so sánh cụ thể như hôm nay.
John: Đã có quy tắc rồi, chỉ cần lưu ý một chút và sử dụng vài lần là quen ngay ấy mà.
Chúc Linh và các bạn thành công!
Ơ, mà Linh không đi đi à? Định để bạn bị “leo cây à”! Có cần anh đi cùng để “xin lỗi” hộ không?
Linh: Suýt nữa thì quên mất! Vẫn chưa muộn đâu, Linh đi đây. Cám ơn anh John và tạm biệt các bạn.

Cách phát âm các dạng của “be”

Trong giao tiếp, động từ “be” thường không được nhấn trọng âm mà chỉ được “lướt qua”. Động từ “be” cũng không được nhấn trọng âm ngay cả khi nó đứng đầu câu (ví dụ như trong câu nghi vấn).

John& Linh: Xin chào các bạn!
Linh: Để sử dụng tốt tiếng Anh, ngoài việc nắm được các cấu trúc ngữ pháp, có một vốn từ kha khá, có một tư duy “bằng tiếng Anh” thì việc phát âm chuẩn cũng cực kỳ quan trọng.
John: Đúng như vậy, ngoài tác dụng làm cho người nghe dễ hiểu thì việc phát âm chuẩn còn giúp cải thiện đáng kể khả năng nghe của bạn. Vì sao ạ? Rất đơn giản, vì bạn chỉ có thể nhận biết được người ta đang nói từ gì khi bạn biết được từ đó được phát âm ra sao. Nếu không nắm vững các cách và các quy tắc phát âm chuẩn thì bạn sẽ mất nhiều thời gian hơn trong việc nghe và “đoán” lời người khác nói.
Linh: Vậy hôm nay anh John chia sẻ với Linh và mọi người một trong số các “cách và quy tắc” đó đi. Cái gì thực tế nhất để có thể áp dụng được ngay ấy.
John: Thực tế nhất thì anh cũng không biết là cái gì, nhưng mà áp dụng ngay thì anh nghĩ có thể thực hành với các dạng (thì hiện tại và quá khứ) của một động từ rất quen thuộc: “to be”. Trong giao tiếp, động từ “be” thường không được nhấn trọng âm mà chỉ được “lướt qua”. Trước tiên, chúng ta hãy cùng nghe đoạn ghi âm dưới đây:
Nếu không xem được Clip mời bạn click vào đây
John: Trong đoạn ghi âm nói trên, chúng ta có thể thấy “are” chỉ được phát âm rất nhẹ như /ə/. Đây là cách phát âm thường thấy trong giao tiếp. Âm /r/ thường chỉ được phát âm khi theo ngay sau “are” là một từ có phát âm bắt đầu bằng một nguyên âm.
(Hãy cùng luyện tập theo:
Roses are red,
Violets are blue.
Flowers are nice,
And so are you!
She was first. You were last.
It was hard. She was fast.
You were slow. She was strong.
I was tired. It was long.) 
John: Động từ “be” cũng không được nhấn trọng âm ngay cả khi nó đứng đầu câu (ví dụ như trong câu nghi vấn):
Nếu không xem được Clip mời bạn click vào đây
(Hãy cùng luyện tập theo:
Am I right? Am I wrong?
Is it short? Is it long?
Are you hot? Are you cold?
Were they young? Were they old?
Is it false? Is it true?
Was it me? Was it you?) 
John: Cũng trong giao tiếp, “is” thường không được phát âm ra như một âm tiết riêng biệt mà nó thường chỉ được phát âm như một chữ “s” thêm vào ở cuối của từ đứng trước nó như. “Snow is white” được phát âm như là “snows white”.
Tuy nhiên, nếu như từ đứng trước nó kết thúc bằng S, CE, GE hay CH thì bắt buộc is hay ’s đều phải được phát âm thành một âm tiết riêng biệt /iz/. Hãy theo dõi đoạn băng sau đây để thấy rõ những sự khác biệt này:
Nếu không xem được Clip mời bạn click vào đây
(Hãy cùng luyện tập theo:
Snow is white.
Your hair is dirty.
The road is closed.
The clock is broken. 
Grass is green.
Your face is dirty.
The bridge is closed.
My watch is broken.) 
John: Lưu ý, động từ “be” được nhấn trọng âm trong những trường hợp sau:
Đứng cuối câu (như trong câu trả lời Yes, I/he/they am/is/are/was/were).
Trong dạng phủ định (như aren’t).
Khi được sử dụng để nhấn mạnh điều gì đó (ví dụ: A:That’s not true! B:Yes, that is true!).
Linh: Linh thấy hơi khó có thể quen ngay với việc phát âm chuẩn như thế này và cũng hơi khó có thể giao tiếp trôi chảy được ngay vì Linh quá quen với cách phát âm cũ của mình rồi anh John ạ.
John: Linh và các bạn đừng lo. Mình nói chuyện với người nói nhanh không có nghĩa mình cũng phải nói nhanh giống họ. Ngữ âm có thể chuẩn hơn nếu chúng ta nói chậm một chút và nhanh dần lên khi chúng ta đã quen. Điều quan trọng là chúng ta cần kiên trì tập luyện. Việc luyện nói có thể không thành công ngay lập tức, nhưng nó sẽ đem tới một kết quả bất ngờ, đó chính là cải thiện rõ rệt khả năng nghe của chúng ta.
John: Chúc Linh và các bạn độc giả thành công!
Linh: Cám ơn anh John! Hẹn gặp lại các bạn vào lần sau.

Ngữ điệu trong tiếng Anh

Ngữ điệu là một nhân tố rất quan trọng trong tiếng Anh. Hôm nay, John & Linh chia sẻ với các bạn một số cách để biểu cảm với ngữ điệu nhé...

John& Linh: Xin chào các bạn!
Linh: Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết rằng ngữ điệu là một nhân tố rất quan trọng trong tiếng Anh và chắc hẳn chúng ta đều biết đến cuối câu hỏi thì cần phải lên giọng.
John: Tuy nhiên, ngữ điệu trong tiếng Anh còn “làm” được nhiều việc hơn như thế. Ngày hôm nay, John & Linh sẽ chia sẻ với các bạn một số cách để biểu cảm với ngữ điệu. Qua đó, chúng ta sẽ đạt hiệu quả cao hơn trong diễn đạt và cũng dễ dàng nắm bắt tình cảm, cảm xúc của người đối thoại hơn.
Linh: Trước tiên, mời các bạn nghe 1 đoạn ghi âm. Trong đoạn ghi âm này có 3 nhân vật (đánh số 1, 2, 3) đang nói “cám ơn”, các bạn hãy thử nghe xem thái độ của mỗi nhân vật này như thế nào nhé
 nếu không xem được clip mời bạn click vào đây


John: Người thứ nhất là một người soát vé. Sau mỗi lần thu vé của khách, anh ta đều nói “cám ơn”. Đây là một thói quen mang tính chất lặp đi lặp lại theo yêu cầu của công việc, chỉ là một hành động giữ phép lịch sự chứ không còn thực sự để biểu lộ “sự biết ơn” nữa. Điều này thể hiện rất rõ trong giọng nói đều đều và đôi lần lên giọng ở cuối câu một cách gượng ép của anh ta.
Linh: Người thứ 2 biểu lộ rằng mình thực sự biết ơn (vì chị ta để quên túi và được người ta đuổi theo để trả) với việc lên giọng và nhấn mạnh vào các từ mang ý nghĩa “cám ơn”.
John: Người thứ 3 nói “cám ơn” với ý nghĩa đối lập hoàn toàn. Chị ta đang biểu lộ sự tức giận vì bị một xe ô tô chạy qua làm nước bắn hết lên áo choàng. Chúng ta có thể hiểu được điều này qua giọng điệu tức giận của chị ta với Thank you very much được nói với giọng đều, không lên không xuống (điều này sẽ được làm rõ hơn ở phần sau).
Linh: Chúng ta sử dụng rất nhiều tính từ khi đưa ra ý kiến, quan điểm về các sự vật, sự việc. Một số trong đó là các tính từ rất mạnh mang tính biểu cảm cao như: brilliant, wonderful, excellent, fantastic, awful, disgusting… chúng ta cần lên giọng khi sử dụng những tính từ rất mạnh này.
John: Một số từ khác ở mức độ bình thường như: nice, OK, good, fun, pretty… chúng ta không cần lên giọng. Các bạn có thể thấy rõ điều này qua đoạn ghi âm dưới đây:
 nếu không xem được clip mời bạn click vào đây
 
Liz: So, how was your trip?
Claire: Oh, it was quite nice.
Paul: What do you mean, nice? It was brilliant!
Liz: Good hotel?
Claire: Quite pleasant, yes.
Paul: Pleasant? It was excellent! Superb!
Liz: How about the food?
Claire: It was OK.
Paul: OK? It was absolutely delicious!
Liz: And the scenery?
Claire: Quite pretty.
Paul: It was amazing! Beautiful!
Linh: Như đã nói ở trên, khi sử dụng những tính từ mạnh, chúng ta thường lên giọng (lên giọng và hơi xuống một chút ở cuối từ). Nếu sử dụng những tính từ mạnh với một giọng điệu đều đều, người nói thường muốn biểu đạt nghĩa ngược lại của từ đó. Người thứ 3 trong đoạn ghi âm đầu tiên cũng sử dụng nghĩa đối nghịch khi nói.
John: Chính vì vậy, khi sử dụng những tính từ mạnh, chúng ta hãy lên giọng, biểu cảm cao hơn để tránh người nghe có thể hiểu nhầm rằng chúng ta đang mỉa mai hoặc không thực sự cảm thấy như những gì chúng ta đang nói. Các bạn có thể tham khảo đoạn ghi âm dưới đây:
 nếu không xem được clip mời bạn click vào đây
 
1: We’ve won a holiday for two in Jamaica!
Brilliant! (lên giọng, thực sự thích thú)
2: Our flight has been canceled!
Brilliant! (không lên giọng, biểu lộ sự thất vọng, bực bội)
Linh: Các bạn hãy chú ý hơn đến ngữ điệu khi nói, hãy luyện tập theo các đoạn ghi âm trong bài.
John: Mong rằng kỹ năng nghe và nói của các bạn sẽ có những tiến bộ đáng kể.
John& Linh: Xin chào và hẹn gặp lại!

Đọc John & Linh, cùng “rinh” giải thưởng

Hôm nay John & Linh bật mí với các bạn điều bất ngờ mà Linh hé lộ từ tuần trước nhé!
Xin chào các bạn!
John: Trong các kỳ trước, John & Linh đã chia sẻ với các bạn các tình huống sử dụng tiếng Anh trong đời thường dưới dạng bài viết (vì tuy đơn giản nhưng không phải lúc nào và không phải bạn đọc nào cũng có máy tính trang bị tai nghe).
Tuy nhiên, theo gợi ý và mong muốn của một số bạn đọc yêu thích John & Linh, hôm nay, với sự tài trợ từ Tập đoàn Ngôn ngữ & Kỹ năng AAC (http://www.aac-edu.com.vn/), chúng ta hãy cùng thử sức với một số đoạn ghi âm ngắn và “rinh” giải thưởng giá trị.
Linh: Sẽ có 3 đoạn băng ngắn với các yêu cầu khác nhau từ dễ đến “ít dễ” hơn một chút. Các bạn hoàn thành các yêu cầu đó và gửi vào phần bình luận ở phía dưới cùng của bài này.
Lưu ý:
- Các bạn phải điền chính xác Họ tên, email, thành phố và năm sinh của bạn - đây sẽ là căn cứ để trao thưởng.
- Các bạn sẽ có thời gian đến hết thứ sáu (19/11/2010) để thực hiện phần thi của mình. Sau đó, các bình luận sẽ được mở để mọi người cùng xem. Nếu bạn gửi bình luận vào thời điểm sau ngày thứ sáu (19/11/2010) thì bình luận đó không được tính.
- Giải thưởng sẽ được trao cho bạn nào có các câu trả lời chính xác nhất, hay nhất và sớm nhất. Các yếu tố này được xếp theo thứ tự giảm dần về độ ưu tiên.
- Kết quả sẽ được thông báo vào thứ Hai (22/11/2010) trên chuyên mục John & Linh.
- Giải thưởng không được quy đổi thành hiện vật khác, không được quy đổi thành tiền mặt.
- Quyết định của ban tổ chức là quyết định duy nhất và sau cùng.
John: Giải thưởng sẽ là 1 khóa học “Luyện phát âm chuẩn” tại AAC trị giá 3.780.000đ (nếu bạn đọc thắng cuộc ở Hà Nội) hoặc 1 USB 3G (đối với bạn đọc thắng cuộc không ở Hà Nội. Ban tổ chức sẽ chuyển giải thưởng qua đường bưu điện) để các bạn dễ dàng hơn trong việc truy cập Internet và không bỏ lỡ các bài viết của John & Linh.
Linh: Và bây giờ mời các bạn bắt đầu “thử sức”. Các bạn có thể “tua đi tua lại” tùy ý để đưa ra các câu trả lời tốt nhất:
Câu I:
John: Scarlett không muốn ăn/không ăn được những thức ăn gì và vì sao?
Câu II:
Linh: Trong 8 câu sau đây (đánh số từ 1 đến 8), mỗi câu đều có 1 động từ kết thúc bằng “se”, hãy cho biết “se” trong mỗi câu đó được phát âm là /s/ hay /z/ theo mẫu:
1 - s (hoặc z)
2 - s (hoặc z)
...
Câu III:
John: Dưới đây là một câu chuyện rất ngắn với phần thu âm không được lọc bỏ tạp âm (để tăng độ khó lên chút xíu, không có lại dễ quá nhỉ), các bạn hãy dịch sang tiếng Việt sao cho hay nhất có thể mà vẫn đảm bảo tính chính xác.
John & Linh: Chúc các bạn có một thời gian vui vẻ với John & Linh.

Từ/ngữ biểu đạt cảm xúc trong tiếng Anh

Cùng một từ, một ngữ nào đó, trong văn cảnh khác nhau với các giọng điệu khác nhau lại biểu đạt các cảm xúc khác nhau, ví dụ như cụm từ "Oh my God!"...
Linh: Anh John ơi, Linh thấy rằng trong giao tiếp tiếng Anh, người ta rất hay dùng các câu cảm thán. Ví dụ như “Oh my God!” Linh có thể hiểu là “Ôi Chúa tôi ơi!” hay là “Chúa ơi!”; hay như “Jesus Christ!” có thể hiểu là “Lạy chúa!” như trong tiếng Việt. Còn rất nhiều câu cảm thán khác mà Linh không hiểu nghĩa và cũng không biết nên dùng trong những tình huống thế nào. 
John: Linh không hiểu hết nghĩa của những từ/ngữ cảm thán (exclamation /¸eksklə´meiʃən/) thì cũng không phải vấn đề quá lớn. Thứ nhất là vì chúng có rất nhiều, thứ hai nữa là để biểu đạt cảm xúc, người ta cũng thường “sáng tạo” ra hàng tá từ/ngữ mới hàng ngày, thứ 3 nữa là các từ/ngữ được sử dụng chỉ đơn giản như một “điểm nhấn” cảm xúc trong giao tiếp và hầu hết đã dần dần mất đi nghĩa nguyên gốc của chúng.
Cùng một từ, một ngữ nào đó, trong văn cảnh khác nhau với các giọng điệu khác nhau lại biểu đạt các cảm xúc khác nhau. Ví dụ như đối với “Oh my God”:
“Oh my God! You can play the piano pretty well!” - Người nói muốn nhấn mạnh sự ngạc nhiên, thán phục.
“Oh my God! That’s just disgusting!” - Nhấn mạnh sự ghê tởm trước một hành động, sự vật nhất định.
“Oh my God! I’ve lost it again.” - Thể hiện sự thất vọng, chán nản.
John: Rất nhiều “thán từ” kiểu này liên quan đến tên “Chúa” hay các cách gọi khác nhau của “Chúa”. Ví dụ như “Oh my God”, “For God’s sake”, “Jesus Christ”… Về mặt nguyên tắc, những từ/ngữ này không được khuyến khích sử dụng vì “không nên gọi tên Chúa hoặc nhắc đến Chúa một cách tùy tiện”. Tuy nhiên chúng vẫn thường xuyên được sử dụng bởi cả những người theo đạo và những người không theo đạo vì một lý do rất đơn giản như đã đề cập ở trên: chúng đã dần dần mất đi ý nghĩa nguyên gốc của chúng và giờ chúng đơn giản chỉ là cách mà người ta biểu lộ cảm xúc, nhấn mạnh cảm xúc mà thôi.
Linh: Tức là chúng ta không nên sử dụng?
John: Việc sử dụng hay không là quyết định ở mỗi người, anh chỉ đưa ra những thông tin trung lập, chi tiết hết sức có thể.
Linh: Linh đã từng nghe thấy ai đó nói “God damn it”, vậy nó cũng như các trường hợp anh nói ở trên à?
John: Không! Exclamation có rất nhiều, và trong số đó có rất nhiều từ mà mức độ của nó “quá nặng” hoặc gần như là một câu nguyền rủa (curse) hay chửi bậy (swear) chúng ta đặc biệt không nên sử dụng. “Damn” đại khái là nguyền rủa, “Damn it” hay “God damn it” hiểu nôm na theo tiếng Việt là “Trời đánh thánh vật” hay “Quỷ tha ma bắt”, tất nhiên là không nên sử dụng rồi. Ngay cả trong tiếng Anh người ta cũng “sáng tạo” ra không ít biến thể để tránh phải nói thẳng ra cụm từ này (Dog gone it, Gosh darn it…).
Linh: Vậy thì biết dùng cái gì bây giờ?
John: Vẫn còn cách có thể nhấn mạnh cảm xúc mà không cần thiết phải sử dụng những từ/ngữ đã đề cập ở trên, anh sẽ nói cho Linh sau. Trước tiên anh muốn liệt kê ra một số Exclamation ở mức độ “vừa phải” để dù không sử dụng nhưng ít nhất khi gặp phải chúng ta sẽ biết được nó là cái gì:
- Jesus/ Jesus Christ! (Hoặc Jeez! - viết tắt của Jesus)
- For God/Heaven’s sake!
- Holly Mother of God!
- Oh my God/Goodness!
- …
John: Còn riêng cá nhân John, khi gặp gỡ những người thân quen, để nhấn mạnh cảm xúc, John có thể sử dụng:
- Are you kidding me? This is perfect! (khi John nhận món quà sinh nhật là một chiếc áo mà John rất thích và dự định sẽ mua)
- Cool/wow/oh dear! (sử dụng khi ngạc nhiên, thích thú. Riêng “Oh dear” có thể sử dụng biểu hiện sự thương cảm, đồng cảm với nỗi buồn của ai đó ví dụ “Oh dear! I don’t believe that just happened!”)
- For crying out loud!
- Get out!/Shut up! - Biểu lộ sự thích thú, ngạc nhiên. Lưu ý chỉ sử dụng với những người cực kỳ thân thiết, ngang hàng về thứ bậc.
- No, somebody didn’t! - Diễn tả sự ngạc nhiên, ví dụ:
Ví dụ: Mathew and Jane broke up last week. - No, they didn’t!
My wife bought only 5 lottery tickets and she won 100,000 dollars. Can you believe that! - No, she didn’t!
- Tương tự với “No way!”, “you've got to be kidding!”, “impossible!”…
- Khi muốn thực sự nhấn mạnh rằng “tôi không tin” hoặc sự không đồng ý (đối với những thân thiết và ngang hàng về thứ bậc), ta có thể sử dụng: “are you for real?”, “are you out of your mind?”, “yeah, when pigs fly!”… hoặc chỉ đơn giản “yeah, right!” hay “yeah, and I’m the Pope” với nghĩa mỉa mai.
Linh: Tóm lại là, dù gì đi chăng nữa thì cũng phải cẩn thận với đối tượng và ngữ cảnh nói đúng không anh John? Vì đã là nhấn mạnh về biểu lộ cảm xúc thì nếu dùng không đúng chỗ thì sẽ trở nên thái quá?
John: Phải công nhận Linh có lẽ là “học trò” sáng dạ nhất của anh đấy!

Autumn - Mùa lá vàng rơi

Trong bốn mùa có lẽ Linh thích nhất là mùa thu, đặc biệt là mùa thu Hà Nội với cool breeze, falling leaves và thỉnh thoảng một chút chilly. Mùa thu không phải là mùa lễ hội nhưng cũng không vì thế mà nhàm chán…
Hôm nay anh John đi vắng, Linh chẳng có ai để nói chuyện cùng, đành phải độc thoại. Nhưng mà Linh không có khiếu văn chương như anh John nên không thể nói chuyện về những chủ đề lãng mạn như Tình yêu (như bài All About Love) được. Tuy nhiên, có một chủ đề mà Linh nghĩ không quá khó đối với Linh, một chủ đề rất đa dạng và ai cũng có thể “đồng cảm” với mình, đó là chủ đề “4 mùa”.  
Linh cũng sẽ học cách viết của anh John (vì đã có rất nhiều độc giả hưởng ứng cách viết này), sẽ viết bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Có đoạn nào hay từ nào chưa biết, các bạn độc giả hãy thử luyện tập đoán nghĩa căn cứ vào văn cảnh chung trước khi cùng nhau giải đáp vào thứ năm tuần này nhé.
Mùa xuân có lẽ là mùa đẹp nhất trong năm, it’s quite mild outside và cây cối lại đâm chồi nảy lộc nên mùa xuân nổi tiếng là mùa lễ hội và mùa cưới. Thường thì vào mùa này, it’s not too sunny, the sky is clear most of the time và trời thỉnh thoảng có mưa, nhưng chỉ là drizzling mà thôi. Linh rất thích ra ngoài để tận hưởng fresh air, ngắm flowers in blossom và feel the breeze in my hair and on my face.
 
Mùa hè là mùa mà các bạn học sinh trông mong nhất. Kỳ nghỉ hè dù ngắn dù dài thì đối với các bạn cũng là một khoảng thời gian thư giãn và thoải mái nhất trong năm - mùa của thể thao, của vui chơi và mùa của “tắm biển”. Thường thì mọi người cũng quen với cái nóng oi ả của mùa hè Việt Nam, nhưng do biến đổi về khí hậu mà trong một vài năm trở lại đây, chúng ta hay gặp phải những heat-waves với cái nóng kỷ lục cũng như doanh số bán air-conditioner cao kỷ lục.
Nói đến chuyện tắm biển vào mùa hè, Linh lại nhớ đến lần đi tắm biển cùng anh John và vài người bạn khác. Linh và mấy chị bạn thì lúc nào cũng đội mũ rộng vành kín mít, wear sun-glasses, trừ những lúc xuống biển ra thì còn lại đều mặc áo chống nắng, trước khi xuống biển 30 phút nhất định phải bôi sunscreen để tránh sunburn. Anh John và mấy anh bạn kia thì lại mình trần từ sáng đến tối, tắm biển đá bóng không coi cái nắng vào đâu với lý do là “tanned nó mới đẹp”.
Mùa hè mọi người phải chú ý hơn một chút, đi ngoài trời nắng lâu hay hoạt động trong môi trường nhiệt độ cao thì cần uống đủ nước và đội mũ, mặc quần áo dày chống nắng để đề phòng heat stroke, đặc biệt trong những ngàyboiling hot. Ngoài ra, mùa hè tuy nắng là thế nhưng ngay cả trong những ngày mà cái thermometer chỉ muốn nổ tung ra thì bất chợt trời vẫn có thể rain cats and dogs ngay được. Vì vậy chúng ta cần có thói quen nghe weather forecast để có sự chuẩn bị kịp thời.
Trong bốn mùa có lẽ Linh thích nhất là mùa thu, đặc biệt là mùa thu Hà Nội với cool breeze, falling leaves và thỉnh thoảng một chút chilly. Mùa thu không phải là mùa lễ hội nhưng cũng không vì thế mà nhàm chán. Việt Nam chúng ta thì có Mid-Autumn Festival (hay còn gọi là Full-Moon Festival), phương Tây thì có Halloween. Mùa này trên thế giới còn là mùa du lịch rất nhộn nhịp vì tại thời điểm này trong năm, rất nhiều vùng đang trong tình trạng thời tiết rất dễ chịu, cảnh vật và cây cối đang trong thời kỳ quá độ chuyển mùa từ nóng sang mùa lạnh nên cùng nhau tạo thành một bức tranh nhiều màu hết sức độc đáo.
Mùa thu chỉ có một điều mà Linh không thích, vì hay có flood, storm và hurricane… làm cho miền Trung của chúng ta không năm nào được yên.
Mùa nào cũng đẹp nhưng riêng mùa đông thường bị gán cho cái tiếng xấu nhất có lẽ bởi sự lạnh giá của nó. Tuy nhiên, ở Việt Nam, mùa đông không freezing cold, cũng không có snow, không phải gánh chịu những snowstorm, blizzard, avalanche… Vào mùa này, sáng sớm và tối muộn it’s a bit foggy, thỉnh thoảng Linh nhớ vẫn có những hails rơi lộp bộp trên mái nhà.
 
Mùa đông nói chung được biết đến với màu trắng của tuyết, với môn thể thao “skiing”, và đặc biệt với anh chàng snowman béo tròn trước sân nhà mỗi dịp Giáng Sinh. Thời tiết thường rất lạnh, nhiệt độ có những nơi xuống minus forty Celsius degrees, mặt đường rất trơn vì icy hoặc thậm chí tuyết rơi chắn kín mọi ngả đường và người dân phải nhờ đến những snow trucks để giải phóng mặt đường và có thể đi lại bình thường.
Mỗi mùa đều có những nét riêng rất nổi bật, các bạn thích mùa nào nhất? Hãy cùng chia sẻ những cảm xúc, kỷ niệm hay những câu chuyện của mình nhé!

Từ “cún” trong tiếng Anh gọi là gì?

Với một số con vật, chỉ cần thêm chữ “cub” vào đằng sau là tạo thành từ chỉ các con vật “thiếu nhi” như: Bear cub - con gấu con, Fox cub - con cáo con, Wolf cub - con sói con, Lion cub - con sư tử con…
Linh: Anh John, sao hôm nay trông vui thế, vừa đi còn vừa huýt sáo nữa? 
John: À, Abby mới sinh em bé, bố mẹ anh vừa gửi ảnh qua cho anh. Em muốn xem không?
Linh: Abby là ai thế? Để Linh xem nào… Úi giời, xinh quá, nhưng mà cứ tưởng ai hóa ra Abby là con chó nhà anh hả! Mấy con cún này cũng yêu ghê!
John: Linh có biết “cún” thì tiếng Anh gọi là gì không?
Linh: “Puppy” chứ gì, làm gì mà Linh không biết. Linh còn biết con mèo con thì gọi là “kitten” vì Linh rất hâm mộ ban nhạc Atomic Kitten nên mới… tra từ điển và biết đến từ này.
John: Thế Linh còn biết những con gì nữa nào?
Linh: Linh cũng còn biết một số từ nữa như con bò con (con bê) được gọi là “calf” nhưng mà chịu chả nhớ được vì loạn hết cả lên, sao khó quá à!
John: Không khó lắm đâu, cứ áp dụng cách nhớ từ thông qua việc liên hệ với các sự vật, sự việc khác ấy.
Anh thấy Linh cũng thích xem Tiger Cup đúng không? Rất đơn giản là con hổ con cũng gần giống như vậy, khác mỗi chữ “p” thành chữ “b”: Tiger cub - con hổ con. Dễ nhớ chưa?
Còn một số con vật khác cũng chỉ cần thêm chữ “cub” vào đằng sau để tạo thành từ chỉ các con vật “thiếu nhi” như: Bear cub - con gấu con, Fox cub - con cáo con, Wolf cub - con sói con, Lion cub - con sư tử con…
Linh: Cái này thì có thể nhớ là “mấy con hung dữ hay gặp ở trong rừng thì con của nó gọi là cub”. Công nhận là dễ nhớ hơn thật.
John: Con dê (goat) có chòm râu dài dài giống “ông già” đúng không? Vậy con của “ông già” tất nhiên là “đứa trẻ” rồi: Kid.
Linh: cười lớn
 
John: Con vịt với con ngỗng trông giống nhau đúng không, suốt ngày bơi “linh” tinh. Vậy con con của chúng sẽ thêm âm “ling” vào: Duck - duckling, Goose - gosling (nhớ bỏ một chữ “o” đi nhé).
Linh: À, cái này thì em dễ nhớ lắm, vì em cũng rất thích phim The Notebook có anh diễn viên nổi tiếng Ryan Gosling đóng.
John: Đúng vậy, em có thể sử dụng mối liên hệ đến cái gì mà em thích và dễ nhớ nhất ấy.
Linh có biết con của con ếch gọi là gì không?
Linh: Con của con ếch là… con nòng nọc.
John: Thế con nòng nọc tiếng Anh là gì? Con nòng nọc như cái cọc (pole) nhỏ xíu (tad), vậy con nòng nọc sẽ là “tadpole”. Cái này hơi khó nhớ hơn, nhưng đổi lại mình sẽ nhớ được luôn cả từ “tad” nữa.
Con cá thường dùng để làm gì nhỉ?
Linh: Cá thường để… rán ăn.
John: Vậy con cá con là “Fry” (rán, chiên), lạ ghê ha! Linh cũng thấy con cá cũng là con suốt ngày bơi “linh” tinh đúng không, mà nó nhỏ tí đúng không, vì vậy cũng có thể gọi con cá con là “fingerling” - “bé tí như ngón tay mà hay bơi linh tinh”. “Fingerling” thường được dùng cho cá hồi hơn.
Linh có biết phim Friends không?
Linh: Có chứ, Linh rất thích 5 người bạn trong Friends.
John: Với anh thì anh Joey trông rất giống con Kangaroo. Và con Kangaroo con cũng được gọi là “joey”.
Còn rất nhiều từ nữa chỉ tên các con vật khi còn nhỏ, nhưng tự nhiên John không thể nhớ ra ngay một lúc được ngoài 15 con nói trên, các bạn độc giả hãy cùng giúp John và Linh liệt kê thêm các từ và cách để nhớ các từ đó nữa nhé!
Dưới đây là phiên âm của các từ trong bài:
Puppy:  /'pʌpi/
Kitten:  /kitn/
Calf: /kɑ:f/
Cub:                 /kʌb/
Kid:                  /kid/
Duckling:          /´dʌkliη/
Gosling:            /´gɔzliη/
Tadpole:           /'tædpəʊl/
Fry:                  /frai/
Fingerling:         /´fiηgəliη/
Joey:                /´dʒoui/

All about love

Trong tình yêu, mọi sự thường bắt đầu rất bất ngờ, có những trường hợp là “love at first sight”, có những trường hợp thì tưởng rằng sẽ là “best friends forever” nhưng đột nhiên một ngày đẹp trời (như hôm nay chẳng hạn), họ mới bắt đầu “have feelings for each other”...
Dạo này thời tiết thật là đẹp, Hà Nội mùa thu đã đi vào bao nhiêu lời ca tiếng hát, bao nhiêu áng văn thơ quả thật là “danh bất hư truyền”. Tuy thỉnh thoảng vẫn có những cơn mưa, cơn dông lớn nhưng nói chung thì thời gian còn lại trời quang đãng, không khí mát mẻ, chả thế mà đi đâu cũng thấy các “đôi” xúng xính váy áo đi chụp ảnh cưới. Trời thì đẹp, cảnh cũng đẹp mà mọi người ai cũng bận cả, hôm nay chỉ còn mỗi mình John “tay nhặt lá, chân đá ống bơ” một mình lang thang chụp ảnh ké ở khu Hoàng thành Thăng Long, đường Nguyễn Tri Phương, đường Phan Đình Phùng và bây giờ thì đang ở tận bãi đá sông Hồng. 
Phải nói rằng tuy một mình lang thang nhưng mà John vẫn cảm thấy rất thú vị vì John vẫn cảm nhận được sự hân hoan, niềm hạnh phúc ngập tràn trong tình yêu của các cặp tình nhân. “Tức cảnh sinh tình”, hôm nay John xin phép được “tâm sự” với các bạn về tình yêu nhé!
Trong tình yêu, mọi sự thường bắt đầu rất bất ngờ, có những trường hợp là “love at first sight”, có những trường hợp thì tưởng rằng sẽ là “best friends forever” nhưng đột nhiên một ngày đẹp trời (như hôm nay chẳng hạn), họ mới bắt đầu “have feelings for each other”. Cũng có những người mà suốt cuộc đời “long for that special someone” và cuối cùng vẫn một mình nhưng lại có những người chỉ muốn “fool around” và tìm kiếm những “one night stand”.
Tình yêu thật đẹp và ngọt ngào. Mỉa mai thay, một số người lại thấy tình yêu ngọt ngào và mãnh liệt hơn nữa khi đó là “forbidden love”.
 
Tình yêu thật đẹp và ngọt ngào...
Trong tình yêu, thường thì các bạn nam hay là người chủ động “make a move” trước, tuy nhiên cũng không ngoại trừ trường hợp tiến triển có được là nhờ các bạn nữ đã “take the chance”.
Khi một bạn nam thấy “interested in” một bạn nữ và bạn nữ đó cũng thấy “into him” thì rất có thể họ sẽ “make a cute couple” rồi sau đó là “engage” và sau đó nữa sẽ “get married”. Đó là trường hợp suôn sẻ chứ nếu gặp phải “love triangle” thì chả thể nói trước được gì. Có nhiều cách để kết thúc một tình yêu “hậu hôn nhân”, có thể họ sẽ sống “happily ever after”, cũng có thể người chồng hoặc người vợ “have an affair” và họ sẽ “split up”, “divorce”…
Như tất cả mọi thứ trên đời, tình yêu có mặt tốt và mặt xấu riêng của nó, có những ánh hào quang làm con người ta ngây ngất nhưng cũng có những góc tối làm cho người ta u mê. Tóm lại thì ai cũng biết rằng “Yêu là khổ, không yêu là lỗ” hay “Yêu là dại khờ mà không yêu thì ngu ngơ” và cuối cùng thì ai cũng “Thà chịu khổ chứ chả chịu lỗ”, “Thà một lần dại khờ còn hơn cả đời ngu ngơ”.
Nãy giờ là những cảm nhận, những góc nhìn của John về tình yêu, một số chỗ John vẫn để tiếng Anh, các bạn hãy giúp John dịch sang tiếng Việt nhé. Và hãy nhớ, chúng ta đang cùng “tâm sự” về tình yêu, hãy cùng nhau chia sẻ những cảm xúc, khoảnh khắc của riêng mình!

Ra mắt chuyên trang vui học tiếng Anh cùng “John & Linh”

Để giúp độc giả có thể học tiếng Anh một cách thú vị và ghi nhớ dễ hơn, báo điện tử Dân trí mở chuyên mục John & Linh. Qua các tình huống vui nhộn, độc giả sẽ được học tiếng Anh trong một hình thức rất mới...
Với sự hỗ trợ về chuyên môn của Tập đoàn Ngôn ngữ & Kỹ năng AAC, bắt đầu từ hôm nay 30/9, mục Giáo Dục - Khuyến học ra mắt chuyên trang John & Linh.
Chuyên trang là nơi giới thiệu những bài viết thông qua cuộc hội thoại giữa nhân vật John và Linh, hoặc là các chia sẻ của John về cách sử dụng tiếng Anh trong các tình huống, hình ảnh khác nhau.  
Độc giả yêu thích học và tìm hiểu tiếng Anh có thể gửi phản hồi ngay dưới mỗi bài viết.
Các bài viết trên chuyên trang John & Linh sẽ xuất hiện đều đặn vào chiều thứ 2 và sáng thứ 5 hàng tuần. Mời độc giả cùng vui học tiếng Anh qua các tình huống với John và Linh nhé!

Thận trọng khi phát âm “important”

Mọi người đang vui vẻ ăn tối và nói chuyện thì tự nhiên em thấy mọi người đều thay đổi sắc mặt và sau đó cố nhịn để không bật cười, ngoại trừ bố anh ấy. Chắc là em đã nói gì đó sai, em hỏi bạn em và anh ấy vẫn nói là không có gì.
John: Chào Linh! Sao trông em buồn thế?
Linh: Hôm qua, bố mẹ một người bạn Mỹ của em tới Việt Nam thăm anh ấy và em mời họ đi ăn tối. Mọi việc đang diễn ra suôn sẻ, mọi người đang vui vẻ ăn tối và nói chuyện thì tự nhiên em thấy mọi người đều thay đổi sắc mặt và sau đó hình như là đang cố nhịn để không bật cười, ngoại trừ bố anh ấy. Chắc là em đã nói gì đó sai nhưng em đã hỏi bạn em và anh ấy vẫn cứ nói là không có gì. Nhưng em biết là có gì, vì thỉnh thoảng em vẫn thấy mọi người liếc nhìn em và dường như vẫn đang muốn nhịn cười. Thật là khó xử!
John: Thế Linh có nhớ là mình đã nói gì không?
Linh: Em nhớ là đang nói chuyện về việc bạn em rất hay kể về gia đình anh ấy. Em nói với bác gái là “He’s always saying that you are the most wonderful woman in the world”. Sau đó em nói với bác trai là “And he also said that, to all the other family members, you are always that special and important person”. Và sau đó là tình huống khó xử như em đã kể đấy. Ơ kìa, sao anh cũng lại cười thế kia, ghét quá đi mất!
John: Ok ok, that’s awkward! Em có biết rằng “important” phát âm là /im'pɔ:tənt/ sẽ nhấn trọng âm vào /p ɔ:/. Trong tiếng Anh có một từ phát âm cũng tương tự, đó là “impotent” phát âm là /ˈɪmpətənt/ nhấn trọng âm vào /ˈɪm/. Khi em nói “important” như vừa rồi, em đã nhấn trọng âm vào âm tiết đầu, 2 âm tiết tiếp theo em nói rất nhẹ và vô tình em đã biến “important” - quan trọng - thành “impotent” - bất lực, yếu đuối.
 
Thử hỏi rằng một người cha khi nghe em nói rằng con trai họ và cả các thành viên khác trong gia đình nghĩ rằng ông yếu đuối và bất lực trước mọi chuyện thì liệu ông có biến sắc hay không? (cuời) Hơn nữa “impotent” còn có nghĩa là bị liệt dương nữa! (cười lớn)
Tuy nhiên, chắc họ cũng biết là em vô tình mới nói như vậy thôi, nên họ mới buồn cười như thế. Đến anh còn không nhịn được cười nữa là! (cười lớn)! Lần sau chỉ cần lưu ý phát âm rõ ràng hơn là được ấy mà!
Linh: Ghét anh quá đi mất, Linh không thèm nói chuyện với anh nữa!
Còn các bạn độc giả thì sao, các bạn nghĩ sao về tình huống này của Linh, các bạn đã từng trải qua hoặc đã từng chứng kiến những tình huống khó xử nào, hãy cùng nhau chia sẻ nhé!

“On time” khác gì với “in time”?

“On time” để nói về sự việc xảy ra chính xác đúng vào cái giờ mà mình đã lên kế hoạch. Còn “in time” có nghĩa là sớm hơn một chút so với các giờ đã lên kế hoạch.
Linh: Chào anh John! 
John: Chào Linh! Do you know what time it is?
Linh: Đúng 6h nhé, chưa muộn đâu nhé, I’m right in time!
John: Anh mời Linh ăn chè mà Linh đến muộn thì anh đi về luôn, chả đợi đâu (cười)! Mà Linh nói sai rồi nhé, phải là “I’m right on time” - “Tôi đến đúng giờ” - mới là đúng.
Linh: Linh tưởng “in time” với “on time” cũng như nhau chứ hả? (cười)
John: Hai cái đó hoàn toàn khác nhau đấy chứ. Anh ví dụ cho Linh nhé: trường hợp của Linh vừa rồi thì dùng “I’m right on time” vì em đến đúng giờ mà mình đã hẹn (6h). Còn ví dụ với “in time”: “Though it was raining very hard, we still managed to get there in time to prepare for the presentation.”
 
Linh: Có nghĩa là: “Dù trời đã mưa rất to nhưng chúng tôi vẫn xoay sở tới đó kịp để chuẩn bị cho bài thuyết trình.” Đúng không anh?
Vậy em hiểu rồi, “on time” để nói về sự việc xảy ra chính xác đúng vào cái giờ mà mình đã lên kế hoạch. Còn “in time” có nghĩa là sớm hơn một chút so với các giờ đã lên kế hoạch đúng không anh?
John: Đúng vậy, chính xác hơn nữa thì người ta định nghĩa là: “in time - with enough time to spare, before the last moment” và “on time - at the planned time, neither late or early”.
Trong tiếng Anh có rất nhiều trường hợp mà cách sử dụng của các cụm từ gần giống nhau lại rất khác nhau. Ví dụ như “in the end” và “at the end” hay như “few” và “a few”, “little” và “a little”… Làm sao để phân biệt và sử dụng chúng cho đúng cũng là một trong những vấn đề hay gặp phải của những người học tiếng Anh.
Theo các bạn thì cách sử dụng những cụm từ nêu trên khác nhau như thế nào, hay bạn đã từng gặp phải những vấn đề tương tự…? Hãy cùng John giúp Linh nhé!